Quy trình thi công màng khò chống thấm tầng hầm bền

Tầng hầm là một trong những hạng mục khó chống thấm nhất trong công trình. Khác với sân thượng hay mái bằng, tầng hầm thường chịu áp lực nước từ đất xung quanh, nước ngầm, mạch nước mao dẫn và độ ẩm kéo dài. Khi tầng hầm bị thấm, việc sửa chữa rất phức tạp vì nhiều bề mặt đã bị che khuất sau lớp bê tông, tường xây, sàn hoàn thiện hoặc hệ thống kỹ thuật. Vì vậy, dùng màng khò chống thấm cho tầng hầm cần được tính toán và thi công ngay từ đầu, không nên xử lý theo kiểu tạm bợ.

Màng khò chống thấm có ưu điểm là tạo lớp ngăn nước dày, bám chắc và có khả năng chịu nước tốt. Tuy nhiên, tầng hầm không phải nơi chỉ cần trải màng là xong. Muốn hệ chống thấm bền, phải xử lý nền đúng, thi công đúng lớp, gia cố đúng điểm yếu và bảo vệ màng trước khi lấp đất hoặc đổ lớp hoàn thiện tiếp theo.
1783047786279.png

Vì sao tầng hầm cần chống thấm kỹ hơn?​

Tầng hầm nằm dưới mặt đất nên luôn chịu độ ẩm cao hơn các khu vực khác. Nước có thể thấm qua vách, sàn, mạch ngừng bê tông, cổ ống xuyên tường hoặc khe tiếp giáp giữa sàn và vách. Nếu hệ chống thấm không kín, nước sẽ tìm đường đi qua những điểm yếu nhỏ nhất.

Một khi nước đã vào tầng hầm, hậu quả không chỉ là tường ẩm hay sàn ướt. Độ ẩm kéo dài có thể làm hư lớp sơn, gây mốc, ăn mòn thép, hỏng thiết bị điện, ảnh hưởng đến kho hàng, bãi xe hoặc khu kỹ thuật. Với công trình lớn, thấm tầng hầm còn có thể gây gián đoạn vận hành.

Chính vì vậy, màng khò chống thấm cho tầng hầm phải được xem là một phần quan trọng của hệ bao che công trình. Làm kỹ từ đầu luôn rẻ hơn nhiều so với sửa chữa sau khi công trình đã đưa vào sử dụng.

Khảo sát hiện trạng trước khi thi công​

Trước khi thi công, cần xác định tầng hầm là công trình mới hay công trình cải tạo. Với công trình mới, việc dán màng từ mặt ngoài vách hoặc dưới sàn thường thuận lợi hơn vì còn đủ không gian thao tác. Với công trình cũ, nhiều vị trí đã bị che khuất, nên phương án xử lý có thể phức tạp và tốn công hơn.

Cần kiểm tra bề mặt bê tông có rỗ, nứt, lồi lõm, bụi xi măng, vữa yếu hoặc dầu cốp pha hay không. Những khuyết tật này làm giảm khả năng bám dính của màng. Nếu nền không đạt, dù dùng màng tốt vẫn có nguy cơ bong rộp hoặc hở lớp chống thấm.

Ngoài ra, cần xác định các vị trí có nguy cơ cao như mạch ngừng, khe co giãn, cổ ống xuyên sàn, cổ ống xuyên vách, chân tường, hố thang máy, hố bơm và khu vực tiếp giáp giữa các đợt đổ bê tông. Đây là những điểm cần gia cường riêng, không thể chỉ dán một lớp màng thông thường.

Chuẩn bị bề mặt đạt yêu cầu​

Bề mặt thi công màng khò chống thấm phải sạch, khô và chắc. Các phần bê tông rỗ cần được đục bỏ và trám vá bằng vữa sửa chữa phù hợp. Các gờ sắc, cạnh nhọn phải được mài hoặc bo lại để tránh làm thủng màng trong quá trình dán.

Với góc tiếp giáp giữa sàn và vách, nên bo góc bằng vữa tạo cung lượn. Nếu để góc vuông, màng dễ bị gập, hở hoặc tách khi chịu áp lực. Đây là lỗi nhỏ nhưng gây hậu quả lớn ở tầng hầm.

Các vết nứt phải được xử lý trước. Không nên dán màng trực tiếp lên vết nứt lớn hoặc vết nứt còn hoạt động. Nếu vết nứt tiếp tục mở rộng, lớp màng phía trên có thể bị kéo căng và hư hỏng.

Quét lớp lót bitum​

Sau khi nền đạt yêu cầu, cần quét lớp lót bitum để tăng độ bám dính. Lớp lót phải phủ đều, không bỏ sót, không để vón cục và không quét quá dày. Nếu lớp lót quá dày hoặc chưa khô se mặt, khi khò màng có thể sinh bọng khí.

Lớp lót có vai trò rất quan trọng trong hệ màng khò chống thấm. Nó giúp kết nối nền bê tông với lớp bitum của màng, giảm nguy cơ bong tách sau này. Nhiều công trình bị lỗi vì bỏ qua bước này để tiết kiệm thời gian, nhưng đây là cách tiết kiệm sai.

Sau khi quét lót, cần giữ bề mặt sạch. Nếu bụi, cát hoặc nước bám lại trước khi dán màng, phải vệ sinh lại, không được khò trực tiếp lên nền bẩn.

Dán màng và xử lý chồng mí​

Khi dán màng, thợ cần trải thử cuộn màng, căn chỉnh hướng dán, sau đó cuộn lại từng phần để khò. Đèn khò phải làm nóng đều mặt dưới màng và bề mặt nền. Khi bitum bắt đầu chảy mềm, màng được ép xuống để bám chắc.

Các đường chồng mí phải đủ rộng và được ép kín. Mép mí là nơi dễ rò nước nhất nếu làm ẩu. Dấu hiệu tốt là bitum trào nhẹ và liên tục dọc theo mép. Nếu mép khô, có khe hở hoặc dính không đều, cần xử lý lại ngay.

Với tầng hầm, nên đặc biệt chú ý hướng dòng nước và áp lực nước. Các mối nối cần được bố trí hợp lý để giảm nguy cơ nước tấn công trực tiếp vào khe mí. Không nên đặt các đường nối ở vị trí xung yếu nếu có thể tránh.

Gia cường điểm yếu​

Cổ ống xuyên vách, mạch ngừng, khe co giãn và chân tường cần được gia cường bằng lớp màng phụ hoặc vật liệu xử lý chuyên dụng. Không nên chỉ cắt màng ôm quanh ống rồi khò sơ. Cách làm đó thường để lại khe hở nhỏ, nước có thể đi theo thành ống vào trong.

Tại mạch ngừng bê tông, cần kết hợp các giải pháp bổ trợ nếu công trình có yêu cầu cao. Màng khò chống thấm là lớp bảo vệ quan trọng, nhưng với tầng hầm, hệ chống thấm nhiều lớp thường an toàn hơn.

Sau khi dán màng, cần kiểm tra toàn bộ bề mặt, nhất là mép mí và điểm giao nhau. Nếu phát hiện phồng, cháy màng, nhăn gấp hoặc hở mép, phải sửa ngay trước khi làm lớp bảo vệ.

1783047739433.png

Bảo vệ màng sau thi công​

Màng sau khi dán không nên để bị va đập, kéo rách hoặc thủng. Với vách tầng hầm, trước khi lấp đất cần có lớp bảo vệ để tránh đá, đất cứng hoặc dụng cụ thi công làm hỏng màng. Với sàn, cần bảo vệ trước khi đổ bê tông hoặc thi công lớp tiếp theo.

Đây là bước nhiều công trình bỏ qua. Thợ chống thấm làm xong nhưng đội khác đi lại, kéo thép, đặt cốp pha hoặc va chạm vào màng khiến lớp chống thấm bị rách. Khi bị lấp kín, lỗi này rất khó phát hiện cho đến khi nước thấm vào tầng hầm.

Thi công màng khò chống thấm tầng hầm muốn bền phải làm đúng từ khảo sát, xử lý nền, quét lót, dán màng, chồng mí đến bảo vệ sau thi công. Tầng hầm là hạng mục rủi ro cao, không nên chọn vật liệu và đội thợ chỉ theo giá rẻ. Một hệ chống thấm tốt cần vật liệu phù hợp, kỹ thuật chuẩn và kiểm soát chặt từng điểm yếu trước khi công trình bị che khuất.
 
Top