CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG KHI CHƯA GIAO ĐẤT

Trong thực tiễn giao dịch bất động sản, việc ký kết tại văn phòng công chứng mới chỉ là bước xác lập hồ sơ ban đầu về mặt hình thức. Rất nhiều chủ đất hiện nay băn khoăn liệu mình có được yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất khi chưa bàn giao đất không để bảo vệ tài sản trước sự vi phạm cam kết từ đối phương. Nhằm giải quyết các vướng mắc này, Long Phan PMT xin cung cấp những phân tích chi tiết về quyền hủy bỏ hợp đồng dựa trên hệ thống quy định pháp luật hiện hành.

Xét về phương diện pháp lý, quyền hủy bỏ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước khi bàn giao thực địa thửa đất hoàn toàn được chấp nhận nếu có các căn cứ xác đáng theo Bộ luật Dân sự 2015. Đầu tiên và phổ biến nhất là trường hợp bên nhận chuyển nhượng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán tài chính. Nghĩa vụ trả tiền là trách nhiệm cốt lõi của bên mua; do đó, nếu việc chậm trả hoặc trả thiếu làm bên bán không đạt được mục đích giao kết ban đầu, quyền hủy bỏ sẽ được kích hoạt. Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015, một bên có quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng và được miễn trừ trách nhiệm bồi thường khi bên kia vi phạm nghiêm trọng các cam kết. Tại khoản 2 Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015 giải thích rõ "vi phạm nghiêm trọng" là hành vi khiến bên có quyền không thể đạt được mục đích khi ký kết. Bên cạnh đó, Điều 424 Bộ luật Dân sự 2015 cũng bổ sung rằng nếu sau khi được yêu cầu trong một thời hạn hợp lý mà bên có nghĩa vụ vẫn không thực hiện phần việc của mình, bên có quyền có thể tuyên bố hủy bỏ giao dịch. Điều kiện để áp dụng thực tế thường là khi hợp đồng đã ấn định rõ tiến độ nhưng bên mua không thanh toán đủ số tiền theo từng giai đoạn, đặc biệt là khi mức độ vi phạm đạt ngưỡng nghiêm trọng như chậm trả quá nửa giá trị thửa đất.

Bên cạnh nghĩa vụ tài chính, việc phối hợp thực hiện các trình tự hành chính để sang tên cũng là một trách nhiệm bắt buộc. Một giao dịch đất đai chỉ thực sự hoàn tất khi các bên cùng phối hợp để đăng ký biến động tại cơ quan Nhà nước. Dựa trên Điều 410 Bộ luật Dân sự 2015, khi các bên đã thỏa thuận về thời gian thực hiện các công việc cụ thể thì mỗi bên phải tự giác tuân thủ khi đến hạn. Việc bên mua cố tình né tránh cung cấp hồ sơ pháp lý cá nhân, từ chối ký tên vào các tờ khai thuế hoặc trì hoãn nộp các khoản thuế phí làm cho quy trình sang tên bị đình trệ sẽ được coi là vi phạm nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015. Bởi lẽ, mục đích sau cùng của người bán là hoàn tất việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ không thể đạt được do sự bất hợp tác này. Hơn nữa, tại điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai 2024 đã khẳng định đăng ký biến động là thủ tục bắt buộc để hợp pháp hóa việc chuyển quyền. Để đảm bảo lợi thế khi tranh chấp tại Tòa án, bên bán nên chủ động thu thập các chứng cứ như thông báo gửi qua bưu điện, tin nhắn trao đổi hoặc yêu cầu Thừa phát lại lập Vi bằng ghi nhận sự việc.

Ngoài ra, quyền hủy bỏ cũng phát sinh khi bên nhận chuyển nhượng thay đổi ý chí, đơn phương tuyên bố không tiếp tục giao dịch hoặc khước từ việc nhận bàn giao đất trên thực địa. Theo quy định tại Điều 425 Bộ luật Dân sự 2015, nếu một bên không thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ khiến mục đích của bên kia không còn đạt được, bên có quyền được phép hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trong tình huống này, bên chuyển nhượng có quyền chấm dứt hiệu lực giao dịch, xử lý số tiền đặt cọc căn cứ theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 và yêu cầu đối phương bồi thường các tổn thất thực tế phát sinh theo Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015. Đặc biệt, nếu trong hợp đồng ban đầu các bên đã tự do thỏa thuận về những điều kiện cụ thể để hủy bỏ (ví dụ: chậm trả tiền quá 20 ngày), thì bên bán có lợi thế rất lớn. Theo điểm a khoản 1 Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015, quyền hủy bỏ sẽ phát sinh ngay khi hành vi vi phạm trùng khớp với điều kiện mà các bên đã thống nhất mà không cần phải chứng minh thêm về mức độ "nghiêm trọng" của sai phạm đó.

Cuối cùng, một căn cứ quan trọng khác là sự xuất hiện của các sự kiện bất khả kháng trước thời điểm bàn giao tài sản. Sự kiện bất khả kháng theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 là những biến cố xảy ra khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết. Trong lĩnh vực đất đai, nếu xuất hiện các quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc thay đổi quy hoạch khiến thửa đất không còn đủ điều kiện để chuyển quyền theo Luật Đất đai 2024, bên bán có cơ sở để chấm dứt hợp đồng. Kết hợp khoản 2 Điều 351 và Điều 425 Bộ luật Dân sự 2015 về việc hủy hợp đồng do mất khả năng thực hiện vì lý do khách quan, bên bán sẽ được giải phóng khỏi trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, bên chuyển nhượng cần chuẩn bị đầy đủ các văn bản hành chính hoặc bản đồ quy hoạch chính thức từ cơ quan quản lý để chứng minh cho lý do hủy bỏ của mình.

Bên chuyển nhượng có quyền hủy bỏ hợp đồng khi bên mua vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán, bất hợp tác trong thủ tục hành chính, từ chối nhận đất, vi phạm các điều khoản thỏa thuận hoặc do sự kiện bất khả kháng làm mất khả năng thực hiện giao dịch. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.​
 
Top